Trong những năm gần đây, hoạt động quản lý chất lượng của nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể như: Xây dựng được một hệ thống văn bản pháp quy làm cơ sở cho công tác quản lý nhà nước thống nhất về chất lượng; thiết lập cơ chế và phương thức hoạt động ngày càng phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế đất nước và xu thế hội nhập quốc tế; đầu tư xây dựng được hệ thống các phòng thử nghiệm; tăng cường hợp tác với các tổ chức chất lượng ở các nước.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng ngày càng được ban hành và triển khai khá đầy đủ, mở rộng đến nhiều loại, nhóm sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước và sản phẩm, hàng hóa xuất, nhập khẩu. Điều này góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và tạo môi trường phát triển lành mạnh, bền vững cho các doanh nghiệp.
Tiêu biểu là Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa và hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác dưới Luật được ban hành khá kịp thời, hiệu quả bởi nhiều Bộ, ngành để cùng thúc đẩy công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa của nước ta trong những năm gần đây.
 |
| Các sản phẩm hàng hóa, thiết bị, linh kiện được sản xuất tại Việt Nam.(Ảnh: sukien360.vn) |
Hiện nay, ở hầu hết các Bộ đều đã xây dựng và ban hành các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá có nguy cơ gây mất an toàn (sản phẩm, hàng hoá nhóm 2). Khoảng 200 QCVN đã được ban hành và Bộ Khoa học và Công nghệ đã thẩm định và công bố hơn 6000 tiêu chuẩn quốc gia.
Số lượng và chất lượng các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia này đã và đang là căn cứ quan trọng để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật để phục vụ quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; căn cứ để thực hiện giám định, thử nghiệm, chứng nhận phục vụ nhu cầu của phát triển kinh tế, thương mại của xã hội.
Công tác quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm không chỉ giúp Chính phủ quản lý được nền kinh tế nước nhà mà còn trực tiếp đảm bảo sự ổn định và sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy sự thịnh vượng dân giàu nước mạnh, vươn tới các trường quốc tế, đảm bảo xã hội no ấm, công bằng, văn minh.
Hoạt động đảm bảo chất lượng còn giúp cung cấp cho người tiêu dùng trong và ngoài nước, các cơ quan quản lý chất lượng của các quốc gia khác nhau trong việc: Minh bạch các thông tin, cơ chế và cách thức quản lý chất lượng của các quốc gia thông qua việc hình thành và thực hiện hệ thống hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại TBT để tạo lòng tin của khách hàng trong nước, quốc tế và các nền kinh tế khác; thông tin rộng rãi các vấn đề liên quan đến xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và kết quả đánh giá sự phù hợp của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân...; thông tin đầy đủ và chính xác về những thiệt hại, tồn tại, yếu kém liên quan đến việc không đảm bảo cam kết về chất lượng để tạo lòng tin rằng những bất cập đang được kiểm soát, điều chỉnh.
Các thông tin liên quan đến năng lực, lĩnh vực của các tổ chức đánh giá sự phù hợp để tạo sự tin tưởng vào kết quả đánh giá sự phù hợp; thông qua kịp thời và đúng mức về kết quả thanh tra, kiểm tra và tình trạng chất lượng đối với mọi sản phẩm, hàng hóa đang có vấn đề về chất lượng.
Tuy nhiên, tùy theo mỗi quốc gia, hoạt động cải tiến chất lượng có thể bao gồm: Xây dựng và thực hiện các chính sách thích hợp để tạo sân chơi bình đẳng cho mọi doanh nghiệp, cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở lấy chất lượng làm nền tảng của thương hiệu, khuyến khích sản xuất phát triển trên cơ sở hướng tới cải tiến chất lượng; thông tin, tuyên truyền, quảng bá nhằm nâng cao nhận thức xã hội, nhà sản xuất và người tiêu dùng về việc quản lý chất lượng; thông tin, giới thiệu và đào tạo về công nghệ, phương thức quản lý chất lượng tiên tiến trên thế giới.
Đặc biệt, cần tạo được lòng tin đối với các nhà đầu tư nước ngoài về một thị trường cạnh tranh lành mạnh, không có sự phân biệt đối xử hoặc không công bằng của Nhà nước, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và đầu tư của Việt kiều về nước; tạo được lòng tin cho khách hàng ở các nền kinh tế khác nhau, các nhà nhập khẩu nước ngoài về uy tín và cam kết chất lượng của hàng hóa Việt Nam, góp phần làm cho hàng hóa Việt Nam dễ dàng thâm nhập các thị trường lớn và khó tính;
Thuận lợi hóa thương mại thông qua việc các thủ tục đánh giá sự phù hợp của Việt Nam được thừa nhận quốc tế, thực hiện khẩu hiệu hội nhập về chất lượng "một lần đánh giá, cấp một chứng chỉ, có giá trị ở mọi nơi".
Qua đó, thuận lợi hóa các thủ tục xuất nhập khẩu, góp phần làm cho quá trình giao dịch thương mại và vận tải quốc tế qua các cửa khẩu của Việt Nam và quốc tế trở nên năng động và hiệu quả hơn; làm cơ sở cho việc thừa nhận song phương và đa phương về kết quả đánh giá sự phù hợp, rút ngắn thời gian chờ đợi, giảm chi phí thử nghiệm trong giao thương quốc tế, góp phần làm hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ Việt Nam; nâng cao vị thế của Việt Nam nói chung và vị thế của sản phẩm hàng hóa Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế./.