Cập nhật lúc :11:25 AM, 04/01/2012
Không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của sinh vật ngoại lai đối với đa dạng sinh học, nhưng bên cạnh đó chúng cũng gây ra những tác hại khôn lường nếu quản lý và kiểm soát chúng không tốt. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu về sinh vật ngoại lai hiện nay ở Việt Nam còn là khoảng trống…
Lúng túng trong quản lý sinh vật ngoại lai
Cứ sinh vật ngoại lai là xâm hại?
Nhiều vướng mắc trong quản lý sinh vật ngoại lại
Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS.TS Mai Đình Yên, phó Chủ tịch Hội sinh thái học Việt Nam xung quanh vấn đề này.
-Thưa GS, những năm qua, công tác nghiên cứu sinh vật ngoại lai nói chung và sinh vật ngoại lai xâm hại nói riêng ở Việt Nam như thế nào? Đã thu được kết quả ra sao?
GS.TS Mai Đình Yên: Thực ra, các loài sinh vật ngoại lai hầu như ít được chú ý ở Việt Nam cho đến những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước,, khi dịch ốc bươu vàng bùng phát gây hại nghiêm trọng trên lúa và cây hoa màu khắp cả nước. Đồng thời năm 1994, Việt Nam ký kết tham gia công ước CBD về đa dạng sinh học thì các nhà khoa học, các nhà quản lý mới bắt đầu có nhận thức về những nguy cơ gây hại của loài sinh vật ngoại lai. Mãi đến năm 2009, Việt Nam ban hành luật Đa dạng sinh học và trước thực tế là nhiều loài sinh vật ngoại lai đã thực sự gây hại thì buộc các nhà khoa học, các nhà quản lý phải bắt tay vào để mà quan tâm, nghiên cứu về sinh vật ngoại lai.
 |
| GS.TS Mai Đình Yên, phó Chủ tịch Hội sinh thái học Việt Nam. (Ảnh: MC) |
Tuy nhiên cho đến nay, có thể nói chưa có ai cũng như chưa có công trình nghiên cứu nào thực sự lớn, thực sự chi tiết về sinh vật ngoại lai nói chung và sinh vật ngoại lai xâm hại nói riêng và sau khi đã xác nhận chúng là loài ngoại lai xâm hại rồi thì phải làm đến cùng ngoài một số công trình mang tính chất kiểm kê nhỏ lẻ, phân loại xem loài nào không gây hại, loài nào gây hại hay có nguy cơ gây hại đang có mặt ở Việt Nam như đề tài về cây mai dương, ốc bươu vàng, bèo Nhật Bản, sâu róm thông, con bọ dừa…Còn các loài sinh vật đã gây hại ở nước ngoài mà chưa có mặt ở Việt Nam thì chắc chắn không có công trình nghiên cứu nào.
-GS đánh giá như thế nào về vai trò cũng như tác hại mà sinh vật ngoại lai đem lại ở Việt Nam?
- Sinh vật ngoại lai cũng có những vai trò nhất định trong việc đa dạng hóa đa dạng sinh học ở địa phương. Trong nhiều trường hợp nhất định, nơi con người đang hoạt động thiếu hay còn gọi là có khoảng trống sinh học, khi đưa loài ngoại lai vào khai thác khoảng trống đó thì không những loài ngoại lai đó không xâm hại mà còn bổ sung cho đa dạng sinh học đang bị khoảng trống (thiếu) ở địa phương đó. Ví dụ, tôi có một cái ao, đầm mà không nuôi được loài thủy sản nào có thể mang lại kinh tế, con bản địa có nhiều nhưng không hiệu quả, không đem lại thu nhập cho người nông dân thì không có lý do gì lại không thể đưa một con ngoại lai vừa có hiệu quả vừa cho năng suất, thu nhập cao cho người nông dân vào ao hồ đó để khai thác.
Ngành chăn nuôi và trồng trọt hiện phải dựa rất nhiều vào loài ngoại lai. Việt Nam làm gì có dê, khoai tây, ngô… nên phải nhập từ nước ngoài về. Do truyền thống nuôi dưỡng, thuần hóa nhân dân ta đã từng bước chuyển từ một cây, con hoang dã thành một cây, con nuôi trồng để hôm nay có một nền nông nghiệp phát triển. Nếu không có hoạt động thuần hóa, hoạt động trao đổi giữa nước này, nước khác thì làm sao có cách mạng xanh, cách mạng trắng trong nông nghiệp.
Tuy nhiên, khi du nhập các loài ngoại lai nếu không quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ thì không ít loài đã trở thành kẻ thù xâm hại nguy hiểm mà dù có tốn rất nhiều công sức, tiền của vẫn chưa thể tiêu diệt được. Chúng ta, đã có những bài học rất lớn về ốc bươu vàng, rùa tai đỏ, cây mai dương…
-Như vậy có nghĩa sinh vật ngoại lai là vấn đề rất phức tạp?
-Đúng thế, vấn đề sinh vật ngoại lai cực kỳ phức tạp, đặc biệt trong công tác quản lý bởi không thể nhìn thấy ngay tác hại của nó. Có khi vài năm hay hàng chục năm sau mới biết được nó là loài xâm hại. Hơn nữa nó xâm hại hay không còn tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Lấy ví dụ cây mai dương hay còn gọi là cây trinh nữ đầm lầy, thế giới cho rằng đây là loài xâm hại rất nguy hiểm. Ở Việt Nam, cây này bắt đầu có ở ĐBSCL sau phát tán ra khắp cả nước. Nhiều người thì cho rằng, không cần phải tiêu diệt nó làm gì, bởi nó chỉ là cây bụi để làm hàng rào rất tốt vì có nhiều gai. Chỉ có những trường hợp như nó mọc ở các vườn chim làm chim không xuống; mọc ở ven đầm lầy, kênh rạch, sông suối mắc lưới đánh cá không được hay nó mọc lan ra ruộng lúa thành loài cỏ dại cạnh tranh thức ăn, nông dân phải nhặt nhạnh tốn công sức thì người dân mới kêu đòi tiêu diệt.
Kể cả bèo tây, rùa tai đỏ, ốc bươu vàng cũng đang trong tình trạng như thế. Việc quản lý khó khăn còn bởi sinh vật ngoại lai xâm nhập bằng nhiều con đường khác nhau như chính ngạch, tiểu ngạch, do tự nhiên (gió, mưa, nguồn nước), quà biếu tặng… Hơn nữa, liên quan đến sinh vật ngoại lai không chỉ là vấn đề xem nó có hại hay không có hại mà còn vấn đề khác như bảo tồn gen di truyền, bảo tồn sinh vật quý hiếm…
 |
| Bèo Nhật Bản lan nhanh chóng ở khắp các hồ, ao mà chúng có mặt. (Ảnh: MC) |
-GS đánh giá thế nào về hiệu quả của việc quản lý sinh vật ngoại lai hiện nay ở Việt Nam?
-Hiện nay, cả Bộ TN&MT và Bộ NN&PTNT cùng được giao nhiệm vụ quản lý sinh vật ngoại lai. Bộ NN&PTNT được quyền nhập hay không nhập về loài ngoại lai còn Bộ TN&MT quản lý trong nước về tài nguyên, trong đó có loài ngoại lai. Tuy nhiên, theo tôi, đã có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ nên hiệu quả quản lý vẫn chưa cao, có nhiều vấn đề chưa có sự thống nhất giữa hai bộ. Đơn cử như vụ con tôm thẻ chân trắng và hàu Thái Bình Dương. Bộ TN&MT đưa hai loài này vào loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại trong Thông tư 22; còn Bộ NN&PTNT lại không đồng tình với quyết định này. Tôi nghĩ, nhà nước cần phải giao trách nhiệm cụ thể cho một đơn vị nhất định quản lý về sinh vật ngoại lai, chịu trách nhiệm từ khâu nhập khẩu đến khâu nuôi dưỡng và kiểm soát chúng.
-Lại nhắc đến vụ tôm thẻ chân trắng và hàu Thái Bình Dương, Bộ NN&PTNT cho rằng cần sản xuất và phát triển, còn Bộ TN&MT có quan điểm phòng ngừa. Theo ý kiến nhiều chuyên gia, cả hai quan điểm này đều có lý. Vậy sự mâu thuẫn nằm ở chỗ nào, thưa GS?
-Về vấn đề này, giữa hai bộ có thể xảy ra sự hiểu nhầm nhau, chứ không phải bộ đúng, bộ sai và có thể xảy ra những thiếu sót, điều này là chuyện rất bình thường.
Trước khi ban hành thông tư này, nếu hai bộ ngồi lại với nhau bàn bạc kỹ lưỡng, thậm chí nếu thấy chưa rõ, cần tổ chức hội thảo, hội nghị, mời các nhà khoa học có hiểu biết về vấn đề này đến để trao đổi. Sau khi đi đến thống nhất chắc chắn thì mới công bố thì chắc đã không có những hiểu lầm như thế.
Hơn nữa, theo tôi, khi cho phép đưa một loài ngoại lai vào trong lãnh thổ của Việt Nam dù bất cứ lý do gì, mục đích gì để chơi cảnh hay để sản xuất kinh doanh, trước đó cần làm một khâu vô cùng quan trọng là phải có nghiên cứu kỹ lưỡng, phải nắm bắt thông tin đầy đủ nhất, mới nhất về loài đó. Sau khi đã hiểu rõ thì mới quyết định cho nhập hay không. Nếu cho nhập cần phải nuôi khảo nghiệm thận trọng và có kiểm soát chặt chẽ. Nghĩa là nhập và nuôi đều có trách nhiệm.
-Hiện Bộ TN&MT đang xây dựng đề án kiểm soát sinh vật ngoại lai, đặt mục tiêu đến năm 2020 diệt trừ 50% loài sinh vật ngoại lai xâm hấn nguy hiểm hiện có ở Việt Nam. GS có biết đề án này không và theo GS mục tiêu đặt ra liệu có khả thi?
-Tôi không biết đề án đó. Có khi mới đang trong giai đoạn dự thảo nên chưa công khai rộng rãi. Nếu mục tiêu đến năm 2020 diệt trừ được 50% loài ngoại lai xâm hại hiện có ở Việt Nam theo tôi là không khả thi. Bởi nhiều khi, chỉ cần diệt hết một loài đã khó. Cây mai dương, rùa tai đỏ, ốc bươu vàng là những dẫn chứng sinh động. Đến nay, đã bỏ ra rất nhiều tiền của, công sức, bằng nhiều phương thức khác nhau như sinh học, hóa chất, vật lý, thủ công... cũng chỉ đạt hiệu quả ở mức độ nhất định. Nhiều nhà khoa học đã lên tiếng cảnh báo, không thể tiêu diệt được mà phải sống chung với chúng còn gì.
Theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của tôi, nhiều loài ngoại lai thế giới cũng phải chịu thua rồi. Nước Anh để tiêu diệt con chuột hải ly đã tốn không biết bao nhiêu chục triệu đô la mà vẫn không xong. Có lần ho khuyên tôi, các ông là các nước đang phát triển, tốt nhất là chớ có nhập, còn diệt thì chúng tôi biết thừa là phải diệt nhưng làm không nổi đâu vì tốn kém lắm mà sinh vật ngoại lai là những loài đặc biệt khôn ngoan không phải cứ muốn là tiêu diệt được.
-Để quản lý tốt sinh vật ngoại lai, theo GS cần phải thực hiện những biện pháp cụ thể nào?
-Điều quan trọng nhất là kiểm soát chặt chẽ từ khâu nhập về sinh vật ngoại lai. Nếu nhập ẩu, nhập mà không có căn cứ khoa học nghiên cứu cụ thể thì sinh vật ngoại lai hoàn toàn có nguy cơ xâm hại.
Sau đó là phải quán lý tốt. Cây nào, con nào không tốt ta hủy bỏ, không làm ảnh hưởng đến môi trường và đa dạng sinh học. Nhưng khi nhập về quản lý không tốt, thấy nó có hại lại thả ra môi trường tự nhiên, rừng núi, sông suối, kênh rạch, ao hồ thì vô tình tạo điều kiện thuận lợi để chúng sinh sôi, gây hại. Do đó, việc kiểm soát sinh vật ngoại lai ngoài trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước là trách nhiệm chung của cả cộng đồng nhằm bảo vệ tài nguyên chung, tài nguyên đa dạng sinh học.
-Xin cảm ơn giáo sư!
Minh Cường