Cập nhật lúc :11:31 PM, 20/10/2011
Nhiều kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học-công nghệ biển Việt Nam mới chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết...
Các nghiên cứu về biển ở nước ta còn nhiều khoảng trống. Đó là nhận định của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học tại “Hội nghị khoa học và công nghệ biển toàn quốc lần thứ 5” do Viện Khoa học và Công nghệ (KH-CN) Việt Nam phối hợp với BộKH-CN, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức ngày 20/10 tại Hà Nội. Hội nghị đã quy tụ trên 500 đại biểu là các nhà khoa học, nhà quản lý về lĩnh vực biển trong nước và nhiều đại biểu nước ngoài đến từ Anh, Pháp, Mỹ…
 |
| Các nhà khoa học đang đặt mẫu thí nghiệm chống ăn mòn kim loại tại đảo Trường Sa (Ảnh chụp lại) |
Việt Nam có vùng biển rộng lớn với đường biển trải dài trên 3.200km, có trên 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ ở thềm lục địa và hai quần đảo ngoài khơi là Hoàng Sa và Trường Sa, có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng. Thế nhưng, hiện nay, các nghiên cứu về địa chất, cấu trúc, kiến tạo địa động lực khu vực Biển Đông thường bị bỏ qua hoặc bị xem nhẹ.
GS.TSKH Dương Ngọc Hải, phó Viện trưởng Viện KH-CN Việt Nam cho biết, vấn đề nghiên cứu sinh khoáng của Biển Đông hầu như vẫn còn bỏ ngỏ. Một số công trình ven bờ hoặc trên các đảo cũng mới chỉ mang tính mô tả chứ không rút ra được quy luật gì về quá trình sinh khoáng. Các vấn đề liên quan đến kết hạch sắt- mangan cũng chưa có nghiên cứu nào đáng kể. Các nghiên cứu về gas hydrat cũng chỉ mới mang tính lý thuyết, dự đoán…
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng còn thiếu một chiến lược tổng quát về khoáng sản năng lượng biển, chưa xây dựng được một bản đồ về tiềm năng khoáng sản năng lượng cho toàn vùng biển một cách chính xác. Chiến lược tìm kiếm dầu khí chưa thật sự rõ ràng, còn phụ thuộc nhiều vào các công ty nước ngoài. Nghiên cứu sinh vật, sinh thái vùng biển sâu và đảo xa bờ còn chậm và lúng túng, thậm chí bất lực trước yêu cầu ngăn chặn sự suy thoái nguồn lợi, các hệ sinh thái.
 |
| Một số kết quả nghiên cứu được trưng bày tại hội nghị của viện Hóa sinh biển (Viện KH-CN Việt Nam). |
Theo tính toán sơ bộ, tại 28 tỉnh ven biển, mỗi ngày thải ra khoảng 38.500 tấn chất thải rắn sinh hoạt (tương đương trên 14 triệu tấn/năm) và 6.600 tấn chất thải rắn công nghiệp (tương đương trên 2,4 triệu tấn/năm) ra biển, gây ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng.
Ngoài ra, theo thống kê trong 20 năm từ 1989- 2009 cả nước có trên 100 vụ tràn dầu do tai nạn tàu. Các vụ tai nạn này đã đổ ra biển từ vài chục đến hàng trăm tấn dầu. Đó là chưa kể các hoạt động đánh bắt thủy hải sản trên biển bằng các máy móc, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu cũng cung cấp 50% lượng dầu gây ô nhiễm biển mà chưa có biện pháp xử lý hiệu quả. “Nếu không có các biện pháp ngăn chặn và xử lý hiệu quả, kịp thời trong tương lai, vùng biển ven bờ nước ta sẽ bị tổn thương nghiêm trọng do chất thải, dầu thải, dầu tràn…” GS Dương Ngọc Hải cảnh báo.
Phát biểu tại hội nghị, TS Lê Đình Tiến, thứ trưởng Bộ KH-CN cho rằng, nghiên cứu biển đòi hỏi phải có một sự đầu tư lớn, toàn diện và lâu dài về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và chính sách khoa học và công nghệ. Có như thế Việt Nam mới có khả năng nghiên cứu sâu, nghiên cứu xa hơn nữa trên vùng biển mênh mông.
Gần đây, Bộ KH-CN đã cùng với các nhà khoa học, các đơn vị nghiên cứu xây dựng khung chương trình KH-CN biển giai đoạn 2011-2015 nhằm giải quyết những vấn đề KH-CN biển còn đang bỏ ngỏ hiện nay.
Minh Cường