>> Làm sạch rác y tế theo công nghệ Nhật Bản
Chất thải rắn hiện phải xử lý bằng phương pháp chôn lấp, trong khi tất cả các bãi rác theo quy hoạch đã trong tình trạng quá tải, phương pháp chôn lấp vừa gây ô nhiễm không khí xung quanh khu vực, vừa gây cứng hóa nguồn nước. Mặc dù chi phí rẻ và thời gian xử lý ngắn, nhưng đây không phải là phương pháp cho một môi trường bền vững.
Không những thế còn lãng phí về diện tích đất vốn đã rất khan hiếm, nhất là ở các đô thị. Một cách làm khác cũng được tính đến, đó là xử lý rác bằng công nghệ thiêu hủy đang được các nước tiên tiến áp dụng. Đó là công nghệ hiện đại, nhưng điều kiện kinh tế nước ta chưa cho phép, vì chi phí quá đắt.
Xử lý rác bằng công nghệ sinh học
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tìm cách xử lý rác phù hợp với điều kiện Việt Nam, ngay từ những năm 1970, ông Trần Vũ Quỳnh (lúc đó còn là một kỹ sư cơ khí mới ra trường) đã dành nhiều thời gian và công sức xây dựng, nghiên cứu các đề tài khoa học liên quan đến vấn đề này. Nhưng phải đến tận lúc nghỉ hưu, ông mới có điều kiện chuyên tâm nghiên cứu, chế tạo thành công dây chuyền xử lý rác thải vào năm 2002.
Sáng chế đã được Cục Sở hữu công nghiệp (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp bằng sáng chế và bằng độc quyền giải pháp hữu ích tháng 3/2006. Công ty CP Xử lý chất thải Hạ Long được thành lập do ông Trần Vũ Quỳnh giữ vai trò Chủ tịch HĐQT.
Vượt qua những khó khăn ban đầu về vốn, mặt bằng và những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện ý tưởng, cuối cùng nhà máy xử lý rác thải (đạt công suất xử lý 300 tấn rác một ngày) đã được xây dựng với tổng vốn đầu tư hơn 63 tỷ đồng. Thực chất việc xử lý rác bằng công nghệ sinh học là một quy trình sản xuất khép kín. Rác thải sinh hoạt sau khi thu gom sẽ được đưa vào băng tải để phân loại. Rác hữu cơ được tách riêng, sau đó nghiền nhỏ và trộn với các loại chất thải có chứa nhiều vi sinh vật rồi đem ủ sinh học hiếu khí tốc độ cao, lên men trong các bioreactor khoảng 10 - 15 ngày.
Theo phương pháp này, rác trở thành nguồn tài nguyên quý giá: Khí sinh học và phân vi sinh. Kết quả phân tích thành phần rác thải sinh hoạt cho thấy, thành phần rác hữu cơ của nước ta chiếm tỉ lệ khá cao: khoảng 45 - 55%, nên rất thích hợp với phương pháp xử lý bằng công nghệ sinh học. Với việc ứng dụng công nghệ này, mỗi tấn rác thải hữu cơ sau khi xử lý sẽ thu được khoảng 10 - 15% phân vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Ngoài sản xuất phân vi sinh thì nhựa, nilon các loại được xử lý sạch, tái chế thành hạt nhựa; các chất vô cơ khác được bổ sung phụ gia, xi măng qua hệ thống thiết bị thủy lực nén để sản xuất gạch; khí CO2 làm thành bột nhẹ, dùng trong công nghiệp và xây dựng. Chỉ còn dưới 2% tỷ lệ rác không sử dụng sau khi phân huỷ được chôn lấp.
Bên cạnh đó, toàn bộ nước thải phát sinh trong quá trình phân loại được đưa ra hệ thống xử lý nước thải rồi quay vòng để cung cấp nước cho các bể phân loại, không thải ra môi trường.
 |
| Dây chuyền xử lý rác thải. |
Trong quá trình hoàn thành lắp đặt thiết bị xử lý, Công ty CP Xử lý chất thải Hạ Long đã tiếp nhận rác từ Công ty TNHH An Lạc Viên với khối lượng 30 tấn rác một ngày để chạy thử từ ngày 19/11/2008 đến 18/3/2009. Hiện nay, công suất nhà máy đạt 30 - 60 tấn rác một ngày, đạt 40% công suất thiết kế. Kể từ khi bắt đầu hoạt động đến nay, nhà máy đã tiếp nhận và xử lý 8.464 tấn rác từ Công ty An Lạc Viên. Kế hoạch năm 2010, công suất hoạt động của nhà máy sẽ đạt 75% công suất thiết kế.
Nhà máy xử lý chất thải Hạ Long là nhà máy đầu tiên được xây dựng tại Việt Nam ứng dụng công nghệ này. Xử lý rác bằng công nghệ sinh học có thể khắc phục được tình trạng ô nhiễm môi trường không khí và ô nhiễm nguồn nước, đồng thời tiết kiệm được diện tích đất. Trong tương lai không xa, chúng ta sẽ khai thác thêm được một nguồn năng lượng mới phục vụ sản xuất, đồng thời giải quyết được tình trạng ứ đọng rác thải, góp phần làm trong sạch môi trường sinh thái.
Mong muốn nhân rộng mô hình
Từ thử nghiệm thành công, Công ty CP Xử lý chất thải Hạ Long sẽ tiếp tục đầu tư xây dựng thêm các nhà máy khác trong địa bàn tỉnh cũng như trên toàn quốc.
Ông Trần Vũ Quỳnh cho biết: Nếu nhập dây chuyền của nước ngoài, giá thành sẽ lên đến vài chục triệu USD, nhưng lại khó có thể vận hành tại Việt Nam do chúng ta chưa hình thành được thói quen phân loại rác ngay từ đầu nguồn. Trong khi đó, xây dựng toàn bộ dây chuyền của Nhà máy xử lý rác thải Hạ Long đã tiết kiệm được 2/3 chi phí, và quan trọng nhất là phù hợp với người Việt.
Mục tiêu lâu dài của ông là sẽ cùng các cán bộ kỹ thuật trong công ty tiếp tục nghiên cứu cải tiến, hiện đại hơn nữa công nghệ dây chuyền để tận dụng tối đa nguồn lợi từ rác. Nhưng, để công nghệ này đem lại hiệu quả tốt, ngoài sự đầu tư của Nhà nước, sự hỗ trợ của các tổ chức thì sự đồng thuận nâng cao ý thức của cả cộng đồng trong việc phân loại rác tại nguồn phát thải lại chính là yếu tố tiên quyết.