Nghị quyết phát triển ĐBSCL: Những điều cần bổ sung

(Diễn đàn trí thức) - Nghị quyết số 120/NQ-CP có nhiều điểm nổi bật nhưng cũng còn những vấn đề chưa được đề cập.

Ngày 18/6/2019, Hội nghị đánh giá kết quả hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, đã diễn ra tại thành phố Hồ-Chí Minh.

Nghi quyet phat trien DBSCL: Nhung dieu can bo sung
Cần nhiều giải pháp để ĐBSCL phát triển bền vững. Ảnh: Pháp Luật Môi Trường

Trong buổi sáng hội nghị có bốn phiên trình bày và thảo luận, được tổ chức song song, gồm: Quản lý tài nguyên nước, lũ lụt, xâm nhập mặn, ứng phó với sụt lún, sạt lở ở vùng ĐBSCL do Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) chủ trì; Tái cơ cấu ngành nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) chủ trì; Giải pháp phát triển hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng, nhà ở phục vụ phát triển bền vững ĐBSCL do Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) chủ trì; và Công tác quy hoạch, cơ chế điều phối vùng và thu hút vốn đầu tư cho ĐBSCL do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) chủ trì.

Buổi chiều là phiên thảo luận chung. Các Bộ báo cáo kết quả hội nghị phiên buổi sáng, tham luận của các Đại sứ đại diện cho các quốc gia, đại diện của các tổ chức và nhà tài trợ, đại diện cho chính quyền của các tỉnh thành tại ĐBSCL, ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và Thủ tướng phát biểu bế mạc hội nghị.

Các phương tiện truyền thông đã đưa tin chi tiết về nội dung và kết quả của hội nghị. Bài viết này là ý kiến cá nhân và những kỳ vọng về NQ120.

Điểm nổi bật của Hội nghị đánh giá kỳ nầy là nhiều đại biểu đã thảo luận và góp ý mở rộng ra ngoài NQ120 và nhận thức chung của hội nghị là ĐBSCL không phải là một vùng tách rời riêng lẻ, mà có sự gắn kết chặt chẻ với thành phố HCM, miền Đông-Nam bộ, các quốc gia trong khu vực, kể cả vai trò cung cấp lương thực – thực phẩm toàn cầu.

Tuy nhiên, những vấn đề sau đây không được bàn thảo trong hội nghị và dĩ nhiên là nó cũng không được nêu trong các chương trình hay giải pháp phải làm trong thời gian tới, gồm:

1. Sản phẩm đặc biệt “nguồn nhân lực”. Có thể vì NQ120 đã nêu ba sản phẩm chủ lực của ĐBSCL là thủy sản, cây ăn trái và lúa gạo và chủ đề của hội nghị là phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH, nên tất cả những thảo luận cũng xoay quanh những chuyện như qui hoạch sử dụng đất, nguồn nước, giống, thị trường, hạ tầng logistic, nguồn vốn, doanh nghiệp, chuổi hàng hóa, chính sách, thiên tai hạn-mặn, sạt lở, úng ngập, nước biển dâng.

Mặc dù có đại biểu cũng đã đề cập đến là mỗi năm ĐBSCL cung cấp cho thành phố HCM, tỉnh Bình Dương hàng triệu lao động, cung cấp hàng chục ngàn công nhân cho các nước ASEAN, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc. Nhưng rõ ràng là chưa có thống kê cụ thể sự dịch chuyển lao động trong nước, các địa phương cũng chưa nắm được là người dân của mình đi làm ở đâu? Làm cái gì? Thu nhập ra sao? Mang về nhà bao nhiêu tiền? Đặc biệt là chưa có đánh giá cụ thể của bên sử dụng nguồn nhân lực đó về “chất lượng sản phẩm” nầy ra sao? Chúng ta biết là người sử dụng lao động sẽ chi trả dựa trên kiến thức, đến kỹ năng và cuối cùng là sức khỏe.

Vì vậy nếu không biết rõ về kiến thức, kỹ năng và sức khỏe của nguồn nhân lực của mình thì làm sao có thể “chào hàng” với người mua? Làm sao có được chương trình hành động cụ thể để nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực ở ĐBSCL? Và như vậy giá trị của nguồn nhân lực nầy chỉ có mỗi sức khỏe mà thôi! Do đó, việc kỳ vọng nguồn nhân lực nầy sẽ “ăn nên làm ra” ở xứ người để có thể đóng góp xây dựng ĐBSCL là một điều xa vời.

Hơn thế nữa, nếu chỉ “bán sức lao động” mà thôi thì một khi sức khỏe không còn, họ buộc phải quay trở về ĐBSCL để sinh sống, thì lúc nầy áp lực lên sự phát triển bền vững ĐBSCL là điều khó tránh khỏi.

2. Ô nhiễm nguồn nước mặt: NQ120 nêu ba trụ cột chính của ĐBSCL là thủy sản, cây ăn trái và lúa gạo, thì cả ba trụ cột nầy đều lệ thuộc rất lớn vào nguồn nước từ số lượng, chất lượng đến thời gian. Ví như việc nuôi tôm sú, thì lúc tôm còn nhỏ cần ít nước mặn và nhiều nước ngọt để giữ cho độ mặn vừa phải, nhưng khi tôm lớn thì cần ngược lại, tức là cần nhiều nước mặn hơn để duy trì độ mặn trong ao nuôi cao hơn.

Ở đây thì nguồn nước mặn và nguồn nước ngọt ngoài việc phải có đủ số lượng cho từng giai đoạn tăng trưởng, thì chất lượng lại rất khắc khe, từ nồng độ khí ôxy đến các chất hữu cơ, hóa học hòa tan trong đó phải ở mức rất thấp, đặc biệt là không có mầm dịch bệnh kèm theo.

Như vậy có thể thấy là yêu cầu nguồn nước để nuôi tôm hoàn toàn khác với nguồn nước để trồng lúa. Mà bấy lâu nay, toàn bộ hệ thống thủy lợi đang có tại ĐBSCL và qui trình vận hành của nó là nhằm cung cấp nguồn nước để sản xuất lúa, tức là chỉ quan tâm đến số lượng nước nhiều hay ít, còn chất lượng thì chỉ cần độ mặn nhỏ hơn hai phần ngàn (2o/oo) và độ chua thấp (pH>5) là được, yếu tố dịch bệnh trong nguồn nước càng ít được quan tâm.

Thứ Hai, 24/06/2019 07:19

Đọc nhiều nhất
Loading...
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện