Quản lý An toàn thực phẩm còn quá nhiều bất cập

(Diễn đàn trí thức) - Văn bản pháp luật chồng chéo, kiến thức của chính người làm công tác ATTP còn chưa vững, lực lượng cồng kềnh, không hiệu quả...

Theo thống kê của Cục VS ATTP, Bộ Y tế, tỷ lệ người sử dụng thực phẩm bị ngộ độc qua các năm từ 2010 đến 2014 đỉnh điểm là năm 2010 có 51 người chết trong số 175 vụ với 5.664 người mắc. Năm 2014 có 43 người chết trên 5.203 người mắc ở 194 vụ ngộ độc. Các con số này mới chỉ là các vụ ngộ độc cấp tính, còn số liệu các vụ ngộ độc mãn tính (tức tích tụ sau một thời gian mới phát tác) thì chưa có thống kê.

Trong khi các vi phạm về sử dụng chất cấm trong chăn nuôi chỉ nhằm mục đích kiếm lời thì gây nên những hậu quả to lớn và lâu dài tới người tiêu dùng.

TTHành độngNăm phát hiệnTác hại ATTP với người tiêu dùng
1

Tiêm thuốc ngủ cho heo trước khi vận chuyển

2013 đến nay

Nhờn thuốc

2

Bơm nước vào dạ dày trâu, bò, heo

2014 đến nay

Kim loại nặng, vi sinh vật gây bệnh

3

Sử dụng Buleteron để tạo nạc cho heo

2015

Ngộ độc thần kinh, suy thận, ung thư

4

Tiêm hóa chất vào trái cây nhằm làm chín đều

2013

?

5

Phun 2,4D (hóa chất gốc Chlo hữu cơ) làm chuối chín vàng đều

2015

Suy thận, ung thư

6

Trộn hóa chất “vàng ô” cho vào thức ăn nhằm tạo màu vàng cho da gà

2015

Ung thư

Nguồn: Chương trình VTV24; Chương trình tài chính kinh doanh – VTV1

Như vậy, càng ngày hoạt động quản lý nhà nước về ATTP càng kém hiệu quả, và điều cần nói ở đây là hành động và việc sử dụng chất cấm cho vào thực phẩm không phải do quy trình công nghệ mà vì mục đích kiếm lợi bất chính, ngày càng tăng.

 2.2. Hệ thống văn bản pháp quy phức tạp, chồng chéo và mâu thuẫn.

2.2.1. Hiện trạng

a. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về An toàn thực phẩm bao gồm

- Luật

- Thông tư liên tịch

- Thông tư (từng bộ)

- Quyết định (từng bộ)

- Quy chuẩn kỹ thuật

b. Hiện trạng

- Văn bản cấp dưới trái với văn bản cấp trên

- Cùng 1 nội dung nhưng giữa các văn bản không giống nhau

- Khi thực thi mỗi cơ quan dựa vào ý của văn bản nào có lợi nhất cho mình để triển khai

- Ví dụ điển hình: Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước của 3 văn bản: Luật, Nghị định 38 , Thông tư liên tịch 13 mâu thuẫn nhau (Phụ lục 1)

2.2.2. Nguyên nhân

a. Luật quy định không cụ thể, không chi tiết; Nghị định hướng dẫn sau hơn 1 năm mới ban hành, các Thông tư liên tịch và Thông tư của từng Bộ sau 2-3 năm. Trong thời gian giao thời (Nghị định, Thông tư chưa ra đời) các ngành, địa phương tùy ý thực hiện theo ý mình.

b. Lực lượng soạn Luật và Thông tư không phải là những người có hiểu biết nhất về ATTP. Lực lượng thẩm định không có chuyên môn sâu về ATTP, nên nặng về rà soát, trình tự pháp lý.

c. Người làm luật ATTP không tiếp tục được giao làm Thông tư nên có nhiều trường hợp (không hiểu nhau, không nhất quán) các yếu tố có tính lợi ích nhóm được cài cắm vào Thông tư.

2.2.3. Giải pháp

a. Phương án 1

(1) Tổ chức soát xét Luật, Nghị định các Thông tư cùng 1 lúc.

(2) Lập dự án và tổ chức đấu thầu. Đơn vị tham gia có thể là Tổ chức khoa học, tổ chức dịch vụ công… hoặc người đang làm việc ở cơ quan nhà nước nhưng nếu trúng thầu thì nghỉ làm việc tại cơ quan nhà nước trong thời gian thực hiện nhiệm vụ xây dựng Luật.

(3) Quốc hội là đơn vị chủ đầu tư.

(4) Các Bộ, địa phương, nhà sản xuất, người tiêu dùng là lực lượng phản biện.

b. Phương án 2

(1) Lập dự án rà soát Luật, Nghị định, Thông tư liên tịch nếu mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập trong Luật và giữa Luật với các văn bản dưới Luật.

(2) Quốc hội là chủ đầu tư.

(3) Các Bộ căn cứ vào nội dung bất cập, mẫu thuẫn để chỉnh sửa.

(4) Nhà sản xuất, người tiêu dung, tổ chức xã hội nghề nghiệp đóng vai trò phản biện.

2.3. Kiến thức về ATTP của cán bộ quản lý nhà nước về ATTP không đầy đủ và không thống nhất

2.3.1. Hiện trạng

a. Cùng 1 hiện tượng nghi vấn về an toàn thực phẩm, nhưng đó có phải là mối nguy gây mất an toàn thực phẩm không? Nếu có thì gây ra hậu quả gì?Phương án giải đáp của các cơ quan có cùng chức năng trong 1 Bộ, hoặc giữa các Bộ khác nhau.

b.) Cách hiểu về thuật ngữ và khái niệm cơ bản cũng khác nhau (ATTP và vệ sinh; Ô nhiễm và mối nguy; Thực phẩm có nguy cơ cao...Nếu cách hiểu về một khái niệm không giống nhau thì phương pháp hành động sẽ khác nhau.

2.3.2. Nguyên nhân

a. Chưa có 1 giáo trình về an toàn thực phẩm thống nhất giữa các Bộ, để tất cả cùng lấy đó làm nền tảng phổ biến chung cho cả nước.

b. Chưa có 1 văn bản quy định người làm tại cơ quản Quản lý chất lượng an toàn thực phẩm (bao gồm lãnh đạo) phải học và thì đạt kết quả khóa đào tạo về an toàn thực phẩm mới được giao nhiệm vụ quản lý về an toàn thực phẩm.

Thứ Hai, 21/12/2015 13:51

Đọc nhiều nhất
Sự Kiện