Mở bể than sông Hồng: Nhiều tác động tiêu cực

(Khoa học) - Khai thác bể than sông Hồng bằng các công nghệ hiện có là hầm lò và UCG tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực to lớn đến môi trường, KT-XH toàn vùng.

Đất đá yếu hơn cả than, nước nhiều...

Tiếp tục cho ý kiến về việc khai thác bể than sông Hồng, GS.TS Trần Văn Trị (Tổng hội Địa chất Việt Nam) dẫn tài liệu Địa chất, địa vật lý, khoan từ năm 1961 hiện có ở Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) và đặc biệt là tài liệu đang thi công của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cho biết, tiềm năng thăm dò than ở ĐBSH nói chung, đặc biệt là các vùng Tiền Hải, Kiến Xương, Đông Hưng, Khoái Châu nói riêng có cơ sở địa chất đáng tin cậy.

Tuy nhiên, nếu thăm dò chi tiết hơn cần phải tính đến các yếu tố mục đích sử dụng, hiệu quả kinh tế- xã hội, môi trường, tai biến...

Từ những vấn đề thực tế này, TKV đã có công văn trình Chính phủ tạm dừng thăm dò, khai thác thử nghiệm than ở Tiền Hải, Thái Bình.

Về tiềm năng khai thác than, theo Quyết định số 60/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 về Quy hoạch ngành Than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 và Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 về Điều chỉnh Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 đã có những số liệu và kế hoạch cụ thể hơn.

Trong đó cũng đã có những nhận định sát dần với thực tế như thu hẹp diện tích một số nơi ở Thái Bình, Hưng Yên và Nam Định là vùng có tiềm năng nhưng mức độ thăm dò còn thấp, điều kiện khai thác khó khăn và phức tạp, nhạy cảm với môi trường và môi sinh.

Quy hoạch cũng đề ra các lộ trình thăm dò các khu Nam Thịnh, Nam Phú huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình phục vụ dự án thử nghiệm để thăm dò mở rộng, khai thác thử nghiệm.

Về quy hoạch khai thác giai đoạn 2021-2030 định hướng thử nghiệm theo phương pháp hầm lò và công nghệ khí hóa than ngầm để lựa chọn phương pháp khai thác hợp lý.

Mo be than song Hong: Nhieu tac dong tieu cuc
Vị trí bể than sông Hồng

Cũng theo vị chuyên gia, trên thực tế, trầm tích chứa than xen kẽ các tập cát kết, sét kết có độ gắn kết còn yếu, phân bố ở các độ sâu hàng trăm, hàng nghìn mét, đặc điểm địa chất công trình, thủy văn, môi trường, tai biến, sụt lún,... rất phức tạp chưa được nghiên cứu mấy, cũng như những diễn biến hiệu quả kinh tế- xã hội cần được nghiên cứu, luận chứng khoa học khách quan làm sao để phát triển bền vững, lâu dài là những vấn đề hết sức phức tạp.

Hiện nay, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam có đề tài hợp tác với Canada thử nghiệm khí hóa than ngầm theo các tài liệu thăm dò ở Tiền Hải đang thi công chưa có báo cáo kết thúc.

Đây chỉ là bước đầu, cần thiết phải được nghiên cứu cụ thể, toàn diện hơn các thông số kỹ thuật, kinh tế- xã hội cũng như tham khảo thực tế những nơi khác trên thế giới có đặc điểm địa chất than tương tự như cấu trúc châu thổ Sông Hồng.

"Tóm lại, than ở ĐBSH nói chung và một số vùng ở Thái Bình, Hưng Yên, Nam Định nói riêng có tiềm năng rất lớn tổng tài nguyên hàng chục tỷ tấn than á bitum có chất lượng tốt được xác nhận qua các tài liệu nghiên cứu, điều tra, thăm dò hiện có là cơ sở đáng tin cậy.

Tuy nhiên đặc điểm trầm tích chứa than, địa chất công trình, thủy văn, môi trường, tai biến địa chất hết sức phức tạp với tài liệu hiện có còn rất hạn chế cũng như các yếu tố kinh tế- xã hội liên quan cần được nghiên cứ thận trọng, thấu đáo hơn để quyết định kế hoạch công tác thăm dò, thử nghiệm sau này có hiệu quả tối ưu nhất", GS.TS Trần Văn Trị lưu ý.

KS Nguyễn Trọng Khiêm (Tổng hội Địa chất Việt Nam) cũng khẳng định, than ở bể than sông Hồng có trữ lượng rất lớn, chất lượng tốt nhưng điều kiện địa chất công trình, địa chất thủy văn rất phức tạp, đất đá còn yếu hơn cả than, nước nhiều, lại nằm dưới vựa lúa lớn, đông dân cư.

Lo công nghệ khai thác

Đề cập đến các phương pháp khai thác bể than sông Hồng được các chuyên gia gợi ý, PGS.TS Lưu Đức Hải (Hội Kinh tế môi trường Việt Nam) cho rằng, nếu khai thác bể than bằng các công nghệ hiện có là hầm lò và khí hóa  than ngầm (UCG) tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực to lớn đến môi trường và kinh tế xã hội của toàn vùng do các vỉa than nằm sâu dưới các tầng nước ngầm trong các địa tầng kém gắn kết.

Phân tích cụ thể, ông Hải cho biết, khai thác hầm lò về khả năng công nghệ có thể triển khai ở một số vùng như ở mỏ Bình Minh, Khoái Châu, Hưng Yên nhưng tác động tiêu cực rất lớn của phương pháp này là tạo ra sự mất nước ngầm diện rộng đối với hai tầng nước ngầm qh và qp - đang là nguồn cung cấp nước sinh hoạt và công nghiệp cho ĐBSH.

Mặt khác, việc mất đất canh tác, nguy cơ sạt lở và lún đất cũng rất lớn, đặc biệt đối với khu vực có mật độ dân số cao như Hưng Yên và Thái Bình.

Trong khi đó, nếu khai thác bằng công nghệ UCG có thể làm giảm nguy cơ mất nước diện rộng so với khai thác bằng phương pháp hầm lò, nhưng có thể tạo ra thêm sự ô nhiễm nguồn nước ngầm của hai tầng chứa nước qh, qp và lún đất lâu dài đối với toàn bộ phạm vi các vỉa than khai thác.

Việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn làm gia tăng việc mất đất, ô nhiễm không khí.

"Kinh nghiệm ở các vùng khai thác than bằng phương pháp UCG cho thấy, tốc độ lún đất hàng năm ở các bãi khai thác than ngầm có thể lên vài chục cm; có khi tới 1-2 mét sau hàng chục năm.

Khai thác bằng phương pháp hầm lò cũng tạo ra tác động lún đất tương tự; chưa kể đến khả năng sự cố sạt lở đất đá trong các hầm lò đối với các địa tầng khai thác than yếu thường xảy ra ở các mỏ than trên thế giới và vùng than Quảng Ninh nước ta.

Thứ Năm, 06/12/2018 07:23

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện