Tiền đổ vào khoa học phần lớn là chi thường xuyên

(Liên hiệp hội) - Đầu tư cho KH-CN không ít nhưng thành tựu chưa được tương xứng, chưa thể truy xuất nguồn gốc thực phẩm, ATTP vẫn là mối lo.

Đó là nhận định của TS. Phùng Đức Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KH-CN&MT của Quốc hội chia sẻ tại Hội thảo "Ứng dụng khoa học và công nghệ trong truy xuất nguồn gốc nông sản phục vụ xuất khẩu và phát triển nền nông nghiệp bền vững ở Việt Nam" do Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức. 

Tien do vao khoa hoc phan lon la chi thuong xuyen
TS.KH Nghiêm Vũ Khải - Phó Chủ tịch Liên hiệp hội Việt Nam (phải) và TS Phùng Đức Tiến - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường - Quốc hội (trái) tại hội thảo.

Theo đó, TS.Phùng Đức Tiến cho rằng, nông nghiệp là một trong 3 trụ cột của nền kinh tế Việt Nam. Cho đến nay, Bộ NN&PTNT và Bộ KH-CN đã rất tích cực trong việc phát triển dự án, thu hút nguồn ngân sách cho khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp. Một năm phân bổ ngân sách cho nông nghiệp Việt Nam về khoa học công nghệ là khoảng 1.000 tỷ đồng.

Trong khi đó, hành lang pháp lý và cơ chế cũng rất thông thoáng. Tất cả các dự án luật của nông nghiệp đều được Ủy ban KH-CN&MT thẩm tra và đều có tuổi thọ dài và đảm bảo giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra cả trước mặt và lâu dài.

9 dự án Luật trong nông nghiệp được thông qua có thể là một môi trường pháp lý quan trọng để nông nghiệp công nghệ cao phát triển nhanh và bền vững.

Nhưng PCN Ủy ban KH-CN&MT của Quốc hội cũng cho biết, sự đầu tư và chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp là lớn nhưng mức độ đạt được chưa tương xứng. Khoa học công nghệ được báo cáo đã đóng góp 30-35% giá trị gia tăng của nông sản, trong khi đó, ở nước ngoài, con số này 60-70%.

"Trong mức chi 1.000 tỷ đồng thì có tới hơn 60% là chi thường xuyên thì lấy đâu ra tiền để chi phát triển? Không thể để tồn tại hệ thống viện, lực lượng cán bộ nghiên cứu dày đặc mà hạn chế về năng lực, không có nổi nghiên cứu khoa học đi vào cuộc sống.

Nghiên cứu hiện nay phải là nghiên cứu ứng dụng hoặc nghiên cứu cơ bản có định hướng ứng dụng. Khoa học cũng phải là thị trường, không thể để tư duy bao cấp còn tồn tại trong hệ thống nghiên cứu được nữa. Không thể để công trình nghiên cứu được nghiệm thu rồi để đó. Cơ chế đã rất thông thoáng nhưng đã nghiên cứu thì phải có sản phẩm khoa học và sản phẩm đó thì phải có giá trị ứng dụng" - TS. Phùng Đức Tiến nhấn mạnh.

TS. Phùng Đức Tiến cho rằng, cơ chế đã thông thoáng, hành lang pháp lý đã đầy đủ, cùng với sự đầu tư cho KH-CN một cách hiệu quả, truy xuất được nguồn gốc, an toàn thực phẩm đảm bảo, vào được chuỗi nông sản toàn cầu thì nông sản Việt Nam chắc chắn sẽ không chỉ đạt ở con số 40 tỷ đồng.

Năm 2017, Việt Nam là 1 trong 15 quốc gia xuất khẩu đứng đầu thế giới nhưng nông sản Việt chủ yếu vẫn là xuất thô, chế biến vẫn yếu kém, cơ sở, kho bãi vẫn lạc hậu và công nghệ thì ở mức thấp.

Đến nay, ở Việt Nam nói chung đã có những công ty chuyên cung cấp giống, phân bón, chế biến, thuận tiện để truy xuất nguồn gốc nhưng nhìn chung vẫn còn là mô hình sản xuất manh mún, nhỏ lẻ.

Ông Phùng Đức Tiến đánh giá, trong hệ thống LHH Việt Nam đã có nhiều hội thành viên đã tổ chức các hội thảo khoa học chuyên ngành thuộc nhiều công đoạn khác nhau của chuỗi sản xuất, các dự án thí điểm về công nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch, hướng dẫn người nông dân về kỹ thuật canh tác, đáp ứng được các tiêu chuẩn của quốc tế như VietGAP, GlobalGAP...

Ông đánh giá, như vậy, để đưa sản phẩm nông nghiệp ra thị trường quốc tế như Nhật Bản, cần phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị.

Phát biểu tại Hội thảo, đại diện LHH tỉnh Bắc Giang cho biết thông tin, việc truy xuất nguồn gốc của nông sản có giá trị thực tiễn to lớn nhưng thực tế lại có những sản phẩm không cần truy xuất nguồn gốc vẫn tiêu thụ được. Đặc biệt có tình trạng vải thiều ở Bắc Giang xuất đi Trung Quốc lại được chính các công ty thu mua của Trung Quốc sang bao gói, chứng nhận truy xuất nguồn gốc tại vườn và chuyển về nước mà không có truy xuất nguồn gốc tại Việt Nam.

Tien do vao khoa hoc phan lon la chi thuong xuyen
Toàn cảnh hội thảo.

Theo TS. Phạm Duy Khánh - Trung tâm Phát triển Nông thôn, Viện Chiến lược và chính sách Bộ NN&PTNT, nhiều nước trên thế giới đã xây dựng khung pháp lý quy định về truy xuất nguồn gốc như Trung Quốc, Nhật Bản, EU.. Tại Việt Nam hiện đã có quy định cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm bắt buộc phải xây dựng hệ
thống truy xuất nguồn gốc và quy định thông tin tối thiểu lưu giữ để truy xuất.

Có một số mô hình về truy xuất nguồn gốc theo chủ thể và cơ chế vận hành cho phép doanh nghiệp tự cung cấp các dữ liệu truy xuất và mô hình cơ quan quản lý Nhà nước được tham gia quản lý và giám sát hệ thống cơ sở dữ liệu.

Ở nhiều tỉnh đã xây dựng kế hoạch triển khai áp dụng điện tử “Qrcode” cho sản phẩm nông sản nhưng lại vận hành dưới mô hình doanh nghiệp tự cung cấp dữ liệu truy xuất gây ra nghi vấn về độ trung thực của thông tin.

Thực tế, việc truy xuất nguồn gốc chưa được kiểm soát chặt khiến Việt Nam thua kém trên thị trường nông sản thế giới.

Nông sản Việt Nam được đánh giá cao nhưng ... không ai biết. Một số hàng nông sản Việt được xuất ra nước ngoài nhưng qua khảo sát, các DN tại nước ngoài lại hầu như không biết các sản phẩm phi lê đông lạnh có nguồn gốc từ Việt Nam.

Cúc Phương

Thứ Tư, 04/07/2018 09:32

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện