Cuộc chiến 2/1979: Quân chủ lực vào trận sẵn sàng tham chiến...

(Quan hệ quốc tế) - Trong cuộc chiến năm 1979, lực lượng chủ lực của Việt Nam sẵn sàng tham chiến, nếu quân Trung Quốc không rút quân về nước vào ngày 05/3.

Quân chủ lực Việt Nam vào trận, Trung Quốc tháo chạy

Khi Trung Quốc nổ súng xâm lược, lực lượng chủ lực duy nhất ở ngoài bắc là Quân đoàn 1 triển khai lực lượng xây dựng một phòng tuyến bảo vệ thủ đô Hà Nội, chuẩn bị cho tình huống xấu nhất là Trung Quốc đột phá qua tuyến phòng thủ biên giới, tiến sâu xuống vùng châu thổ sông Hồng hoặc nhảy dù xuống Đồng bằng, chia cắt tiền tuyến với hậu phương của Ta.

Đến giai đoạn 2 của cuộc chiến (theo tuyên bố của Trung Quốc), Việt Nam đã quyết định tung lực lượng chủ lực tham chiến.

Nhưng vì nhiều lí do, mãi đến khi quân Trung Quốc sắp rút về nước hoặc đã rút về nước thì lực lượng chủ lực của các quân đoàn chủ lực mới được triển khai lên biên giới.

Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) - lực lượng chủ lực của Bộ quốc phòng, đang làm nhiệm vụ tại Campuchia và mặt trận biên giới Tây Nam ngày 27/2 được lệnh cơ động gấp toàn bộ lực lượng ra bắc, lên mặt trận biên giới phía Bắc tăng viện.

Ở phía Nam, trực thăng và máy bay vận tải của Trung đoàn không quân 916 (đoàn Ba Vì), Đoàn 918 và Đoàn 919 Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam cũng phối hợp với không quân Liên Xô, khẩn trương tập kết và vận chuyển Quân đoàn 2 từ mặt trận biên giới Tây Nam lên biên giới phía Bắc.

Vào ngày 3/3, Bộ Quốc phòng đã quyết định sử dụng đến các đơn vị chủ lực cơ động chiến lược của Quân đoàn 1 (tức Binh đoàn Quyết Thắng) để chi viện cho chiến trường nóng nhất là Lạng Sơn.

Ngày 3/3 Quân đoàn 1 điều động Sư bộ binh 320B (sau này đổi thành 390 - đoàn Đồng Bằng, gồm Trung đoàn bộ binh 27, 48, 64 và Trung đoàn pháo binh 54) được tăng cường Trung đoàn bộ binh 209 (đoàn Sông Lô) thuộc Sư đoàn bộ binh 312 (đoàn Chiến Thắng) và tiểu đoàn pháo tầm xa 130mm của Lữ đoàn pháo binh 45 (đoàn Tất Thắng) cấp tốc hành quân lên Lạng Sơn.

Lực lượng chủ lực Việt Nam chưa kịp tham chiến, Trung Quốc đã rút quân

Tối 4/3, các đơn vị này đã triển khai sẵn sàng trên tuyến chiến đấu Chi Lăng -Đồng Mỏ - Hữu Kiên, nhưng chưa kịp tham chiến thì Trung Quốc tuyên bố rút quân, ngay sau khi Lệnh tổng động viên toàn quốc để quét sạch bè lũ xâm lăng của Chủ tịch nước Tôn Đức được công bố vào ngày hôm sau - 05/3.

Về phía quân đoàn 2, các trung đoàn máy bay vận tải, trực thăng vận tải Việt Nam và Liên Xô đã nỗ lực sử dụng máy bay vận tải chuyên chở lực lượng của Quân đoàn về ra bắc.

Cuộc chuyển quân thần tốc bằng cả đường biển, đường bộ, đường sắt và đường không bắt đầu từ ngày 6/3, đến ngày 11/3 những đơn vị đầu tiên của quân đoàn gồm Sư đoàn bộ binh 304 (đoàn Vinh Quang), Lữ đoàn pháo binh 164 (đoàn Bến Hải), Lữ đoàn phòng không 673, tiểu đoàn trinh sát…về tới Hà Nội.

Theo dự kiến ban đầu, hai sư đoàn 320B và 304 sẽ phối hợp phản công trên hướng Bản Chắt (Đình Lập) nhưng do quân Trung Quốc đã rút chạy, sau khi ta tuyên bố tung một phần lực lượng của Quân đoàn 1 lên biên giới.

Sau khi chiến dịch hiệp đồng phản công của 2 sự đoàn này được ngừng lại, một bộ phận của Sư đoàn 304 đã kịp thời chuyển lên tham gia đánh địch tại Trà Lĩnh (Cao Bằng).

Ngoài ra, các sư 337, 338 cũng kịp tham gia các trận truy kích tàn quân Trung Quốc rút lui qua ngả Chi Mã.

Vì sao quân chủ lực Việt Nam sẵn sàng nhưng cần chưa tham chiến?

Sau khi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc kết thúc, có một vấn đề gây tranh cãi là sự chậm trễ trong việc điều chuyển các lực lượng chủ lực.

Một luồng ý kiến cho rằng, khả năng dự báo trước tình hình của chúng ta là chưa tốt nên bị động trong thời gian đầu khi Trung Quốc đột ngột nổ súng tấn công, khiến lực lượng chủ lực không kịp tham chiến, đặt gánh nặng lên vai lực lượng phòng thủ tại chỗ.

Thực tế, chủ lực của Quân đoàn 1 và Quân đoàn 2 chỉ lên biên giới khi quân Trung Quốc sắp hoặc đã tuyên bố rút quân; nên từ ngày 17/2 đến ngày 5/3, lực lượng chủ chốt trong thế trận phòng thủ biên giới của quân dân ta chỉ bao gồm các lực lượng phòng thủ tại chỗ này.

Tuy nhiên, điều này lại làm nổi bật khả năng huy động lực lượng tại chỗ, khả năng điều chuyển các đơn vị dự bị, khả năng tái cơ cấu các đơn vị rút lui từ chiến trường ra và thành lập các đơn vị mới phù hợp với đặc điểm tình hình của Việt Nam là rất tốt.

Thứ Sáu, 15/02/2019 14:23

Sự Kiện